Tin hoạt động

VINATABA - NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN (1985-2020)

05/04/2020

Vinataba - 35 năm xây dựng và phát triển (05⁄04⁄1985 - 05⁄04⁄2020)

1. Giai đoạn 1985- 1995: Lớn mạnh trong gian khó

*Thành lập Liên Hiệp các Xí nghiệp Thuốc lá Việt Nam

Trước năm 1954, miền Bắc chưa có ngành công nghiệp thuốc lá. Năm 1955, Thủ tướng Chính Phủ ra quyết định số 2990/QĐ về viêc xây dựng một nhà máy Thuốc lá Quốc doanh. Ngày 06/01/1957, bao thuốc lá đầu tiên mang nhãn hiệu Thăng Long xuất xưởng. Đây đươc coi là ngày khai sinh của Ngành công nghiệp Thuốc lá XHCN Việt Nam.

Sau ngày 30/04/1975, đất nước thống nhất, Hãng thuốc lá Đông Dương MIC (Manufacture Indochinoise de Cigarettes) được chính phủ tiếp quản.

Trong giai đoạn 10 năm sau ngày thống nhất đất nước (1975-1985), ngành thuốc lá Việt Nam đã tiến một bước dài về tổ chức ngành, từ những nhà máy riêng biệt từng miền đến hình thành 2 Xí nghiệp Liên hợp.

Ngày 18/6/1981, Bộ Công nghiệp -Thực phẩm ra quyết định số 620/CNPT/TCQL thành lập Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá I gồm các nhà máy thuốc lá ở phía Bắc và Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá II gồm các nhà máy thuốc lá ở phía Nam.

Ngày 05/4/1985 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 108-HĐBT về việc thành lập Liên hiệp các xí nghiệp Thuốc lá Việt Nam trên cơ sở hợp nhất hai liên hiệp.

Khi mới thành lập, tổ chức và bộ máy quản lý của Liên hiệp bao gồm: Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Các bộ phận: Kế toán, Kế hoạch, Đầu tư Xây dựng cơ bản, Tổ chức, Kỹ thuật, Văn phòng (chưa có chức danh Trưởng, phó phòng), Các đơn vị thành viên gồm 04 Nhà máy thuốc lá điếu (Sài Gòn, Vĩnh Hội, Thăng Long, Hà Bắc), 04 xí nghiệp nguyên liệu (Miền Trung, Miền Đông, Miền Tây, Hà Nam Ninh).

Sự ra đời của Liên hiệp các xí nghiệp Thuốc lá Việt Nam đánh dấu một bước chuyển biến mới về phương thức quản lý và trở thành một mô hình đầu tiên về quản lý ngành đối với ngành thuốc lá.

(Hình ảnh: Nghị định 108-HĐBT (Trang 34 – cuốn Vinataba 30 năm)

* Từ Liên hiệp các xí nghiệp TLVN tới Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam

Tháng 12/1986, Đại Hội Đảng lần thứ VI mở ra một trang mới trong lịch sử của Đảng và dân tộc, nền kinh tế chuyển từ cơ cấu cũ sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Liên hiệp các xí nghiệp Thuốc lá Việt Nam đã chỉ đạo các nhà máy đẩy mạnh đầu tư chiều sâu, thay đổi cơ cấu sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì, mở rộng thị trường, sản xuất nhiều mác thuốc có khả năng cạnh tranh với thuốc lá ngoại nhập lậu, trong đó sản phẩm Vinataba (sản xuất từ năm 1990), được đánh giá là sản phẩm thành công thay thế thuốc lá ngoại nhập lậu, ngày càng chiếm lĩnh thị phần nội địa. Liên hiệp cũng bước đầu đàm phán với các tập đoàn thuốc lá hàng đầu thế giới như BAT, Philip Morris, Rothman, Intabex… và đàm phán với New Toyo, Leigh Mardon sản xuất và in bao bì, giấy sáp vàng.

Từ những nhà máy chỉ chuyên sản xuất thuốc lá điếu, thông qua sự phát triển của Liên hiệp Thuốc lá Việt Nam đã hình thành khá đầy đủ bộ mặt của một ngành Kinh tế Kỹ thuật-ngành Thuốc lá Việt Nam trên quy mô toàn quốc phát triển nhanh chóng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực nguyên liệu, phụ liệu, sản xuất thuốc lá điếu, hệ thống phân phối, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế.

Đồng hành với tiến trình đổi mới của đất nước, sau 8 năm hoạt động (1985-1992) Liên hiệp khẳng định được vai trò nòng cốt với toàn ngành Thuốc lá Việt Nam, đóng góp tích cực cho ngân sách Nhà nước.

Liên hiệp đã thể hiện vai trò tiên phong trong công cuộc đổi mới để bước  vào giai đoạn tiếp theo – được có tên là 1 trong 18 Tổng công ty 91 của Nhà nước gánh vác sứ mệnh làm nòng cốt của ngành Thuốc lá Việt Nam.

Để tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, Bộ Công nghiệp nhẹ đã ra quyết định số 1007/CNn-TCLĐ ngày 31/10/1992 về việc chuyển đổi tổ chức và hoạt động của Liên hiệp Thuốc lá Việt Nam thành Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ.

2. Giai đoạn 1996-2005: 10 năm hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước hạng đặc biệt – TCT 91

Ngày 29/4/1995, Chính phủ ra quyết định số 254/TTg về việc thành lập Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (VINATABA), trực thuộc Chính phủ (còn gọi là Tổng công ty 91, hạng doanh nghiệp đặc biệt).

Tổ chức bộ máy gồm có Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, các phòng chức năng, hoạt động theo Điều lệ Tổng công ty được Chính phủ phê duyệt.

Khi mới thành lập Tổng công ty có 12 đơn vị, chia làm 3 khối:

Khối sản xuất thuốc điếu gồm 05 nhà máy: Sài Gòn, Vĩnh Hội, Thăng Long, Bắc Sơn, Thanh Hóa.

 Khối sản xuất nguyên liệu gồm 02 Công ty: Nguyên liệu Thuốc lá Nam, Nguyên liệu Thuốc lá Bắc

Khối phụ trợ và sự nghiệp gồm 05 đơn vị: công ty Xuất nhập khẩu Thuốc lá, công ty Thương mại Thuốc lá, Xí nghiệp In bao bì và phụ liệu Thuốc lá, Xí nghiệp Cơ khí Thuốc lá, Viện Kinh tế -Kỹ thuật Thuốc lá.

Với mô hình mới, Tổng công ty được tăng thêm quyền hạn về bổ nhiệm cán bộ, đầu tư, giá cả; quền tự chủ tài chính và kinh doanh; mở rộng phạm vi ngành nghề kinh doanh.

Giai đoạn này, Vinataba đóng vai trò nòng cốt trong quá trình sắp xếp tại tổ chức ngành thuốc lá, tham gia xây dựng hệ thống chính sách làm cơ sở pháp lý cho quản lý sản xuất kinh doanh thuốc lá, tiếp tục hoàn thiện và phát huy thế mạnh của doanh nghiệp đầu tàu ngành thuốc lá Việt nam từ khâu nguyên liệu đến sản xuất phân phối lưu thông.

Đến năm 2005, hầu hết các doanh nghiệp thuốc lá địa phương đã gia nhập Tổng công ty (Nhà máy thuốc lá An Giang, Long An, Đồng Tháp, Cửu Long, Bến Tre). Tổng công ty mua lại phần vốn của Việt Nam trong 2 liên doanh, chiếm trên 51% (công ty liên doanh thuốc lá Đà Nẵng, Công ty Liên doanh Thuốc lá Vinasa – Cần Thơ). Đồng thời, Tổng công ty cũng tiến hành tổ chức lại nội  bộ các đơn vị: sáp nhập Nhà máy Cơ khí Thuốc lá vào Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, tiếp nhận Công ty Thuốc lá Lạng Sơn sáp nhập vào công ty Nguyên liệu Thuốc lá Bắc, sáp nhập Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội vào Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn.

Bên cạnh đó, Tổng công ty mở rộng sang lĩnh vực công nghiệp tiêu dùng, tài chính thông qua vệc tiếp nhận và đầu tư vốn vào các công ty trong lĩnh vực này. Hoạt động của bộ máy Tổng công ty không còn dựa trên kinh phí đóng góp của các đơn vị, đảm bảo chi phí, có lợi nhuận và tích lũy vốn – tạo tiền đề cơ bản vững chắc cho việc chuyển đổi Tổng công ty sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-công ty con giai đoạn sau.

Sau 10 năm hoạt động theo mô hình mới (1996-2005), Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam đã hướng tới xây dựng thành một tập đoàn kinh tế mạnh, khẳng định vị trí dẫn đầu trong ngành thuốc lá Việt Nam và là một trong những lá cờ đầu của nền kinh tế cả nước. Thương hiệu Vinataba được khẳng định giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế.

3. Giai đoạn 2006-2010: Mô hình Công ty Mẹ-Con

Thực hiện Quyết định số 232/2005/QĐ-TTg ngày 23/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 327/2005/QĐ-TTg ngày 9/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, từ ngày 01/01/2006, Tổng công ty đã thực hiện chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con.

Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2006-2010 là xây dựng Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam trở thành một Tổng công ty Nhà nước mạnh, tổ chức theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, đa sở hữu về vốn, lấy sản xuất kinh doanh thuốc lá là ngành nghề kinh doanh chính, đồng thời phát triển đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh tập trung vào lĩnh vực công nghiệp thực phẩm, bất động sản, đầu tư tài chính bảo đảm kinh doanh có hiệu quả. Tiến đến hình thành tập đoàn kinh tế mạnh với thương hiệu Vinataba.

Để thực hiện mục tiêu này, yêu cầu đặt ra đốivới Tổng công ty là phải tái cấu trúc tổ chức và nguồn lực hợp lý, có chiến lược kinh doanh phù hợp và xây dựng đội ngũ quản trị năng động đáp ứng được yêu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh trong tình hình mới.

Theo đó, Tổng công ty thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm thuốc lá điếu phù hợp với lộ trình thay đổi thuế tiêu thụ đặc biệt và thích ứng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; tiến hành di dời một số cơ sở sản xuất ở trung tâm đô thị ra khu công nghiệp; phát triển mạnh  các hoạt động kinh doanh đa ngành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tổng công ty đã chuyển đổi 9 Nhà máy thuốc lá điếu thành công ty TNHH một thành viên. Viện Kinh tế kỹ thuật Thuốc lá thực hiện chuyển đổi thí điểm thành doanh nghiệp khoa học công nghệ hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên; tiếp nhận phần vốn nhà nước trong Công ty liên doanh Nguyễn Du và Công ty Cổ phần Thực phẩm Công nghiệp Nam Định; thực hiện góp vốn vào Công ty TNHH 2 thành viên Thuốc lá Hải Phòng và trở thành đơn vị thành viên Tổng công ty; tiếp nhận Công ty Thực phẩm Miền Bắc; đầu tư thành lập Công ty liên doanh Sapporo Việt Nam; thành lập Trung tâm đào tạo VINATABA.

Giai đoạn này đánh dấu thời kỳ trưởng thành của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam với tầm vóc mới: Tổ hợp Công ty mẹ-con có tiềm lực tài chính, kinh doanh đa ngành với cốt lõi là ngành sản xuất kinh doanh thuốc lá chủ lực của ngành Thuốc lá Việt Nam; là doanh nghiệp có uy tín và vị thế không chỉ tại thị trường trong nước mà còn trên thị trường quốc tế và sản xuất kinh doanh các mặt hàng trong lĩnh vực Công nghiệp Tiêu dùng.

Tính đến năm 2009, Tổ hợp Công ty mẹ- Công ty con:

Công ty mẹ, gồm:

  • Cơ quan Văn phòng Tổng công ty

Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc

Các phòng chức năng nghiệp vụ: Văn phòng, Kế hoạch, Tài chính kế toán, Tổ chức nhân sự, thị trường, kỹ thuật, Đối ngoại, Đầu tư Xây dựng Cơ bản, Nghiên cứu phát triển

  • Các Công ty trực thuộc: Công ty Thương mại Thuốc lá, Công ty Xuất nhập khẩu Thuốc lá, Trung tâm đào tạo VINATABA

      Các công ty con, Công ty Liên doanh, Công ty liên kết bao gồm 3 khối:

Lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuốc lá:

12 đơn vị Khối thuốc lá điếu: các công ty TNHH 1 thành viên Thuốc lá: Sài gòn, Thăng Long, Bắc Sơn, Thanh Hóa, Long An, Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp, An Giang, Hải Phòng; Công ty TNHH 2 thành viên Thuốc lá Hải phòng và Đà nẵng; Công ty Liên doanh Thuốc  lá Vinasa.

03 đơn vị Khối nguyên liệu gồm: công ty Cổ phần Hòa Việt, Ngân Sơn và Công ty Liên doanh thuốc lá BAT - Vinataba

02 đơn vị Khối phụ liệu: công ty Cổ phần Cát Lợi và Công ty Liên doanh Vina-Toyo

01 đơn vị Khối nghiên cứu khoa học: Công ty TNHH 1 thành viên Viện Kinh tế - Kỹ thuật Thuốc lá

Lĩnh vực công nghiệp thực phẩm: 09 đơn vị

Công ty Thực phẩm miền Bắc

Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà

Công ty Liên doanh Bánh kẹ Hải Hà-Kotobuki

Công ty Cổ phần thực phẩm Công nghiệp Nam Định

Công ty Cổ phần Lương thực thực phẩm Colusa – Miliket

Công ty Liên doanh sản xuất bia Kronenbourg Việt Nam (sau chuyển thành công ty TNHH Sapporo Việt Nam)

Công ty Cổ phần Bia Sài gòn – Quảng Ngãi

Công ty Cổ phần Rượu bia Lâm Đồng

Công ty Cổ phần Nước giải khát Hàng Không SASCO

Lĩnh vực bất động sản, thương mại và đầu tư tài chính: 02 đơn vị

Công ty Liên doanh Nguyễn Du

Công ty Cổ phần bất động sản LILAMA

4. Giai đoạn 2010-đến nay: Thập kỷ đột phá – Những bước phát triển vượt bậc

Ngày 23/06/2010, theo Quyết định số 932/QĐ-TTg, Tổng công ty được chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Với mô hình công ty mẹ, công ty con, Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, giai đoạn này đã ghi dấu những bước phát triển vượt bậc của Tổng công ty.

Tổng công ty thực hiện Hoàn thành cơ bản đề án tái cơ cấu giai đoạn 2012-2015 và sau 2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 166/QĐ- TTg ngày 16/01/2013, công văn số 633/TTg- ĐMDN ngày 13/5/2015 và công văn số 601/TTg- ĐMDN ngày 6/4/2016, tổ chức sắp xếp lại các công ty thuốc lá điếu, thoái vốn 10/18 khoản đầu tư, thực hiện tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp. Hai nhóm công ty mẹ Công ty Thuốc lá Sài Gòn, Công ty Thuốc lá Thăng Long đã từng bước tái lập lại cấu trúc hệ thống thị trường, hỗ trợ tích cực các công ty con, tích hợp năng lực sản uất, tận dụng tối đa ưu điểm, thế mạnh của nhau để khắc phục các hạn chế đã tồn tại nhiều năm trước tạo ra sự cân đối trong tăng trưởng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Có thể nói, kết quả của tái cơ cấu đã thể hiện rất rõ ở cả 3 khía cạnh: mô hình tổ chức – quản trị - nhân sự, phát huy tính sáng tạo của người lao động; và sự lành mạnh hóa về tài chính ở cả cấp Tổng công ty lẫn nhóm các công ty con.

Tổng công ty đã thực hiện rất thành công thoái vốn đầu tư ngoài ngành (2015-2017), điển hình là mức lợi nhuận thoái vốn từ bia Sapporo là 86 tỷ đồng, từ bánh kẹo Hải Hà là 306 tỷ đồng và t ừ bánh kẹo Hữu Nghị là 240 tỷ đồng; Xây dựng thành công Hệ thống phân phối Vinataba trên phạm vi toàn quốc với hơn 130 gian hàng; Liên kết với tập đoàn VinGroup để đưa sản phẩm vào chuỗi của hàng Vinmart+ với hơn 2.000 cửa hàng, đón đầu xu hướng tiêu dùng hiện đại của. Từ năm 2017, Tổng công ty đã triển khai sản xuất kinh doanh sản phẩm xì gà để đáp ứng nhu cầu thị trường. Đây là bước đột phá mới của Tổng công ty góp phần phát triển thương hiệu Tổng công ty trong thị trường tiêu thụ thuốc lá cao cấp.

Trong giai đoạn 2015-2019 Tổng công ty đã luôn giữ vững vị trí dẫn đầu trong ngành thuốc lá, tổng sản lượng tiêu thụ thuốc lá điếu của Tổng công ty và các đơn vị thành viên tăng trưởng bình quân đạt 2,6%/năm. Trong bối cảnh sản lượng tiêu thụ nội địa của toàn ngành giảm, nhưng sản lượng sản phẩm Tổng công ty vẫn tăng trưởng, thị phần nội địa TCT đã chiếm trên 68% toàn ngành, tăng trên 3 điểm % so với 5 năm trước và dẫn đạo toàn thị trường ở phân khúc sản phẩm trung cấp. 

Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng bình quân 6,5%/năm, sản phẩm thuốc lá điếu vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực. sản lượng xuất khẩu liên tục tăng (từ 1,2 tỷ bao năm 2015 đến hơn 1,7 tỷ bao vào năm 2019, đạt mức tăng trưởng bình quân 9,6%/năm). Đến cuối năm 2019, sản lượng xuất khẩu của Tổng công ty đã chiếm 76% sản lượng xuất khẩu toàn ngành.

Nộp ngân sách của toàn Tổng công ty đã tăng bình quân 6,5%/năm. Năm chiếm khoảng 65% toàn Hiệp hội. Thu nhập bình của người lao động tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015-2019 đạt 12%/năm. Phát triển sản xuất, bảo toàn vốn, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu giai đoạn 2015-2019 bình quân đạt 9,5%/năm.

***

Hơn ba thập kỷ qua, Tổng công ty Thuốc lá- VINATABA đã có những bước phát triển lớn mạnh vượt bậc. Sự chiếm lĩnh thị trường nội tiêu với thị phần trên … cùng tới tốc độ tăng trưởng cao của kim ngạch xuất khẩu đang tạo ra những động lực lớn cho sự phát triển rất có ý nghĩa về năng lực cạnh tranh của Tổng công ty, qua đó thể hiện vị trí hàng đầu, là mũi nhọn chiến lược phát triển toàn ngành, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong điều tiết vĩ mô của Chính phủ. Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, từ năm 2009 đến nay, Tổng công ty đã và đang triển khai Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 02 huyện nghèo: huyện Hà Quảng – tỉnh Cao Bằng và huyện Bác Ái – tỉnh Ninh thuận với kết quả đã được Nhà nước, các Bộ, Ngành và chính quyền địa phương các tỉnh đánh giá cao, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, nông thôn: giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hỗ trợ địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, trường học, trạm y tế góp phần làm thay đổi đời sống và bộ mặt nông thôn mới ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn.

Chiến lược phát triển:

Ngày 10/11/2018, Bộ Công thương và Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp thống nhất lập Biên bản chuyển giao quyền và  trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu tại Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam từ Bộ Công thương về Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Hiện nay, Tổng công ty đang tiếp tục thực hiện tái cơ cấu giai đoạn 2018-2020 theo thông báo kết luận số 288/TB-BCT ngày 31/8/2018 của Bộ Công thương.

Trong giai đoạn tới, Tổng công ty tiếp tục  quan điểm chiến lược tăng cường đầu tư vốn trong lĩnh vực thuốc lá (thông qua việc sắp xếp ngành, tiếp nhận  phần vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất thuốc lá, hoặc thông qua tái cơ cấu, mua bán, sáp nhập) nhằm giữ vị thế dẫn đạo ngành nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động SXKD của Tổng công ty cũng như của toàn ngành – một lĩnh vực sản xuất kinh doanh đặc thù vừa bị kiểm soát chặt chẽ, vừa có vai trò đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội.

Phát triển hoạt động kinh doanh trực tiếp của Công ty mẹ trên lĩnh vực thương mại thông qua hợp tác với các đối tác quốc tế để nghiên cứu, đầu tư sản xuất, phát triển các sản phẩm thay thế và thuốc lá thế hệ mới; phát triển kinh doanh thương mại trên cơ sở phát triển kinh doanh các sản phẩm thuốc lá cao cấp, xì gà, thuốc lá thế hệ mới;  hình thành Chi nhánh Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam tại miền Trung để đầu tư sản xuất, chế biến nguyên, phụ liệu thuốc lá cao cấp cho sản xuất thuốc lá chất lượng cao, ít độc hại hoặc cho sản xuất thuốc lá thế hệ mới.

Tổng công ty – Công ty mẹ sẽ tiếp tục hoàn thiện các nền tảng hạ tầng nhằm tạo điều kiện cho việc điều hành chiến lược SXKD, nhân sự, chuỗi già trị thuốc lá của Tổng công ty như: Thống nhất quản lý thương hiệu sản phẩm, hệ thống nhận diện thương hiệu, năng lực máy móc thiết bị sản xuất thuốc lá; Hệ thống phân phối chung Vinataba, nền tảng công nghệ thông tin quản lý...