Tin hoạt động

MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG CÓ HIỆU LỰC TRONG NĂM 2018

10/01/2018

MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG CÓ HIỆU LỰC TRONG NĂM 2018

1.      Nghị định 106/2017/NĐ-CP: Thuốc lá giả, thuốc lá nhập lậu đều bị tịch thu để tiêu hủy, trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định

        Ngày  14 tháng 9 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 106/2017/NĐ-CP (Nghị định 106) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số  67/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật phòng, chống tác hại của thuốc lá về kinh doanh thuốc lá. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/11/2017.

        Theo đó, so với NĐ  67/2013/NĐ-CP , Nghị định 106 đã có một số thay đổi theo hướng phù hợp với thưc tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành thuốc lá  trong giai đoạn tới.

        Nếu như trước đây, tại NĐ 67 sợi thuốc lá được hiểu “là sản phẩm được chế biến từ lá thuốc lá sau khi đã qua các công đoạn thái thành sợi”, thì tại Khoản 3, NĐ 106, sợi thuốc lá không còn được hiểu là “sản phẩm” mà là “nguyên liệu” được chế biến từ lá thuốc lá sau khi đã trải qua các công đoạn thái thành sợi và được dùng để sản xuất sản phẩm thuốc lá”. Ngoài ra,  Khoản 3 Điều 3 NĐ 106 cũng đã chỉ rõ hơn những đối tượng được gọi là “thương nhân mua bán sản phẩm thuốc lá”, bao gồm: Thương nhân phân phối, thuơng nhân bán buôn và thương nhân bán lẻ sản phẩm thuốc lá. Cùng với đó, từng đối tượng thương nhân buôn bán sản phẩm thuốc lá cũng được mở rộng phạm vi hoạt động mua bán thuốc lá hơn so với nghị định cũ. Cụ thể, nếu như tại NĐ 67, thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá chỉ được mua sản phẩm thuốc lá trực tiếp từ Nhà cung cấp sản phẩm thuốc lá để bán cho các thương nhân bán buôn thì NĐ 106 đã cho phép thương nhân phân phối sản phẩm thuốc lá không chỉ mua sản phẩm thuốc lá trực tiếp từ nhà cung cấp mà còn có thể mua sản phẩm thuốc lá từ nhà phân phối thuốc lá khác để không chỉ bán cho thương nhân bán buôn như nghị định cũ mà còn được quyền bán sản phẩm thuốc lá cho thương nhân bán lẻ. Tương tự như thế Nghị định 106 đã cho phép thương nhân bán lẻ được quyền lựa chọn việc mua thuốc lá từ thương nhân phân phối hoặc thương nhân bán buốn sản phẩm thuốc lá để bán trực tiếp cho người tiêu dùng mà không bị hạn chế như Nghị định cũ là chỉ được phép mua sản phẩm thuốc lá từ thương nhân bán buôn.

        Bên cạnh việc mở rộng phạm vi kinh doanh của các thương nhân mua bán, Nghị đinh 106 đã khẳng định “kinh doanh thuốc lá là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” thay vì quy định như trước đây “thuốc lá thuộc nhóm hàng hóa nhà nước hạn chế kinh doanh”.

        Một trong những điểm mới so với NĐ 67 trước đây là quy định đối với sản phẩm thuốc lá điện tử theo đó Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức có liên quan nghiên cứu xây dựng quy định phù hợp để quản lý các sản phẩm thuốc lá điện tử.

        Đối với hoạt động quản lý nhà nước đối hoạt đồng đầu tư trồng cây thuốc lá thì Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ kiểm tra mà còn phải có trách nhiệm giám sát việc đầu tư trồng cây thuốc lá, sản xuất tiêu thụ nguyên liệu thuốc lá, lưu thông sản phẩm thuốc lá trên địa bàn quản lý.

        Một điểm quan trọng đó là Nghị định 106 quy định: “Thuốc lá giả, thuốc lá nhập lậu đều bị tịch thu để tiêu hủy, trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định”. Quy định này là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan chức năng, ban ngành có liên quan áp dụng trong công tác chống buôn lậu thuốc lá đang diễn biến ngày một phức tạp.

        Nghị định mới cũng quy định không thu tiền tem thuế thuốc lá

2.      Luật số 12/2017/QH14 của Quốc hội : Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 100/2015/QH13: truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vụ buôn bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu từ 1.500 bao trở lên

        Ngày 20 tháng 6 năm 2017, Quốc hội ban hành Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 1/1/2018. Theo đó sửa đổi điều 190; 191 theo hướng, tính số lượng (buôn bán, vận chuyển từ 1.500 bao thuốc lá nhập lậu trở lên thay vì tính theo giá trị từ 100 triệu đồng trở lên) để truy cứu hình sự thay vì tính giá trị như trước đây. Đây là sự thay đổi căn bản theo hướng tích cực, chấm dứt một giai đoạn dài chồng chéo của rất nhiều luật và các văn bản dưới luật về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vụ buôn bán, tràng trữ, vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu. Cụ thể: phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với các trường hợp buôn bán, tàng trữ, vận chuyển từ 1.500 bao đến 3000 bao; phạt tù từ 5-10 năm đối với các trường hợp buôn bán, tàng trữ, vận chuyển từ 3000 bao đến dưới 4.500 bao; và phạt tù tới 15 năm khi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển 4.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu trở lên…

3.      Nghị định số 126/2017/NĐ-CP của Chính phủ: Những điểm mới về cổ phần hóa

        Ngày 16/11/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2017/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 và thay thế Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần; Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 và Nghị định số 116/2015/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP Các quy định trước đây về cổ phần hóa trái với Nghị định này không còn hiệu lực thi hành.

        Nghị định 126/2017 bao gồm bảy chương với 50 điều, trong đó có những điểm đáng lưu ý như sau:

        Thứ nhất, điều 4 về điều kiện cổ phần hóa nêu rõ các DNNN thực hiện cổ phần hóa khi đảm bảo đủ hai điều kiện sau: không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100%  vốn điều lệ và còn vốn Nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp. Cùng với đó, Nhà nước sẽ không cấp thêm vốn để cổ phần hóa. Các doanh nghiệp sau khi đã được xử lý tài chính và xác định lại giá trị doanh nghiệp theo quy định mà giá trị thực tế thấp hơn các khoản phải trả thì sẽ có các phương án xử lý như phối hợp với các chủ nợ, Công ty Mua bán nợ Việt Nam để tái cơ cấu doanh nghiệp hoặc chuyển sang thực hiện các hình thức chuyển đổi khác theo quy định của pháp luật.

        Thứ hai, nghị định mới đã điều chỉnh những quy định về việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược như sau: (i) Có năng lực tài chính và có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hai năm gần nhất tính đến thời điểm đăng ký mua cổ phần có lãi, không có lỗ lũy kế; (ii) Có cam kết bằng văn bản của người có thẩm quyền khi đăng ký trở thành nhà đầu tư chiến lược của doanh nghiệp cổ phần hóa về những nội dung sau: tiếp tục duy trì ngành nghề kinh doanh chính và thương hiệu của doanh nghiệp trong thời gian ít nhất ba năm kể từ thời điểm chính thức trở thành nhà đầu tư chiến lược; không chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn ba năm; hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hóa trong việc chuyển giao công nghệ mới; đào tạo nguồn nhân lực; nâng cao năng lực tài chính; quản trị doanh nghiệp; cung ứng nguyên vật liệu; phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm...

         Thứ ba, về phương thức bán cổ phần lần đầu, nghị định mới bổ sung thêm phương pháp mới là phương pháp dựng sổ (Book building) với đối tượng cụ thể theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ngoài ba phương thức bán cổ phần hiện hành là đấu giá công khai, bảo lãnh phát hành và thỏa thuận trực tiếp. Phương thức dựng sổ là quá trình tạo lập, tiếp nhận và ghi lại nhu cầu cổ phiếu của nhà đầu tư. Theo đó, tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ phối hợp với tổ chức phát hành xác định khoản giá dự kiến và dựa vào nhu cầu của thị trường trên cơ sở dựng sổ lệnh về nhu cầu nhà đầu tư để xác định mức giá cuối cùng. Đây là một phương thức phổ biến trên thế giới giúp xác định đúng nhu cầu cũng như mức giá phù hợp để đợt chào bán thành công.

         Thứ tư, về xác định giá trị tài sản vô hình, theo quy định trước đây thì giá trị tài sản vô hình (nếu có) (trừ giá trị quyền sử dụng đất) được xác định theo giá trị còn lại đang hạch toán trên sổ kế toán. Thực tế có những tài sản vô hình đã hết khấu hao và thu hồi đủ vốn mà doanh nghiệp cổ phần hóa vẫn tiếp tục sử dụng nhưng lại không được đánh giá lại để đưa vào giá trị doanh nghiệp hoặc có những tài sản vô hình có giá trị còn lại trên sổ sách kế toán có thể rất thấp do công ty xác định thời gian khấu hao ngắn, nhưng giá trị thực tế còn cao. Do đó, nghị định mới đã có sự bổ sung theo hướng giá trị tài sản vô hình được xác định lại theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (khoản 4, điều 27). Ngoài ra, đối với một số tài sản đặc thù như cổ phiếu nhận được, tài sản hình thành theo hợp đồng BOT, tài sản là hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, nghị định mới cũng quy định cụ thể về cách thức xác định giá trị.

         Với những sửa đổi cơ bản như trên, Nghị định 126 được kỳ vọng sẽ giúp giải tỏa những khúc mắc trong xác định giá trị doanh nghiệp cũng như thu hút được lượng cầu nhiều hơn từ các nhà đầu tư quan tâm đến các đợt cổ phần hóa.

        Chính sách bán cổ phần cho người lao động

        Nghị định số 126/2017/NĐ-CP quy định người lao động tại doanh nghiệp cổ phần hóa được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vục nhà nước với giá bán bằng 60% giá trị 01 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần).

        Theo đó, Người lao động tại doanh nghiệp cổ phần hóa bao gồm các đối tượng dưới đây: (1) - Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa; (2) - Người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác; (3)- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cấp II (chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đối với các doanh nghiệp quy định tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Công ty mẹ của Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại nhà nước), Công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con.

        Đối với người lao động đại diện cho hộ gia đình nhận khoán (mỗi hộ gia đình nhận khoán cử một người lao động đại diện) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa có hợp đồng nhận khoán ổn định lâu dài với công ty nông, lâm nghiệp khi chuyển sang công ty cổ phần được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế đã nhận khoán với công ty với giá bán bằng 60% giá trị 01 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần).

         Số cổ phần bán với giá ưu đãi theo quy định, người lao động phải nắm giữ và không được chuyển nhượng trong vòng 03 năm kể từ thời điểm nộp tiền mua cổ phần ưu đãi.

         Nghị định cũng quy định rõ, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, thuộc đối tượng doanh nghiệp cần sử dụng và có cam kết làm việc lâu dài cho doanh nghiệp trong thời hạn ít nhất là 03 năm (kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu) sẽ được mua thêm cổ phần theo quy định sau:

-       Mua thêm theo mức 200 cổ phần/01 năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 2.000 cổ phần cho một người lao động.

Riêng người lao động là các chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao được mua thêm theo mức 500 cổ phần/01 năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 5.000 cổ phần cho một người lao động. Doanh nghiệp cổ phần hoá căn cứ đặc thù ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của mình xây dựng và quyết định các tiêu chí để xác định chuyên gia giỏi, có trình độ nghiệp vụ cao và phải được nhất trí thông qua tại Hội nghị người lao động của doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá.

-       Giá bán cổ phần cho người lao động mua thêm là giá khởi điểm được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án cổ phần hóa.

-       Mỗi một người lao động chỉ được hưởng quyền mua thêm cổ phần theo một mức xác định nhưng không quá 2.000 cổ phần cho một lao động và không quá 5.000 cổ phần cho một lao động là chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.

-       Số cổ phiếu người lao động mua thêm được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông sau khi kết thúc thời gian cam kết.

        Trường hợp công ty cổ phần thực hiện thay đổi cơ cấu, công nghệ, di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn tới người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động, thôi việc, mất việc theo quy định của Bộ luật lao động trước thời hạn đã cam kết thì số cổ phần đã được mua thêm sẽ được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Trường hợp người lao động có nhu cầu bán lại cho doanh nghiệp số cổ phần này thì công ty cổ phần có trách nhiệm mua lại với giá sát với giá giao dịch trên thị trường.

        Trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn đã cam kết thì phải bán lại cho công ty cổ phần toàn bộ số cổ phần đã được mua thêm với giá sát với giá giao dịch trên thị trường nhưng không vượt quá giá đã được mua tại thời điểm cổ phần hoá.

        Nghị định nêu rõ, người lao động trong doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu chuyển thành công ty cổ phần thông qua Công ty Mua bán nợ Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này được áp dụng các chính sách trên theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

        Người lao động có nhu cầu mua thêm cổ phần ngoài số cổ phần được mua theo quy định trên thì thực hiện đăng ký mua đấu giá công khai theo quy định như các nhà đầu tư khác.

        Chính sách đối với lao động dôi dư

        Đối với lao động dôi dư, Nghị định quy định người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác mà không bố trí được việc làm tại công ty cổ phần theo phương án sử dụng lao động sẽ được hưởng chính sách đối với người lao động dôi dư theo quy định của pháp luật.

        Người quản lý doanh nghiệp do cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định bố trí công việc. Trường hợp cơ quan đại diện chủ sở hữu đã tìm mọi biện pháp nhưng không bố trí được việc làm thì được hưởng chính sách như chính sách tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.

        Người quản lý Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ do Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch các doanh nghiệp nhà nước xem xét, quyết định bố trí công việc. Trường hợp đã tìm mọi biện pháp nhưng không bố trí được việc làm thì giải quyết chính sách theo quy định của pháp luật về lao động.