Tin hoạt động

Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá - 30 năm xây dựng và phát triển

03/10/2016

Công ty TNHH MTV Viện Kinh tế kỹ thuật thuốc lá là đơn vị trực thuộc Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (TCT), được thành lập từ năm 1986. Ban đầu chỉ là một phòng nghiên cứu, sau 30 năm xây dựng và phát triển, đến nay đã trở thành một đơn vị quy mô, có uy tín trong lĩnh vực nghiên khoa học kỹ thuật của ngành Thuốc lá Việt Nam.

Giai đoạn 1986 – 2005: Trưởng thành từ gian khó

Vào những năm 1986, nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi dần theo hướng từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường. Cũng như bao ngành kinh tế khác, ngành Thuốc lá đang chuyển mình từ nền sản xuất nhỏ lẻ, phải cạnh tranh khốc liệt với hàng nhập ngoại, đặc biệt là nạn thuốc lá lậu hoành hành khắp nơi trong cả nước. Thực trạng đó đòi hỏi ngành Thuốc lá phải có sự đột phá về khoa học công nghệ, phát triển vùng nguyên liệu chất lượng cao, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất chế biến, bảo quản thuốc lá để tạo ra sản phẩm thuốc lá điếu chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và nâng dần sản lượng xuất khẩu ra thị trường thế giới. Trong bối cảnh đó, Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá ra đời với kỳ vọng sẽ góp phần đóng góp công sức để đưa ngành Thuốc lá phát triển lên một tầm cao mới, trên nền tảng công nghệ mới.

Với tên gọi ban đầu là Phòng Nghiên cứu Trung tâm thuốc lá, có chức năng, nhiệm vụ: Nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thuốc lá; sản xuất thử nghiệm trên cơ sở những kết quả nghiên cứu; đầu tư trồng trọt, kinh doanh nguyên liệu thuốc lá; thực hiện các dịch vụ khoa học, công nghệ, phân tích, kiểm định chất lượng thuốc lá nguyên liệu, thuốc lá điếu, hương, phụ liệu phục vụ các đơn vị trong và ngoài ngành Thuốc lá; sản xuất phân bón hỗn hợp trồng cây thuốc lá và sản xuất hương liệu…

 Khi mới thành lập, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn rất thiếu thốn, nhân sự chỉ có vài người. Sau một thời gian, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Phòng được đổi tên thành Phân viện Nghiên cứu Thuốc lá Hà Nội và sau đó là Viện nghiên cứu Thuốc lá Hà Nội.

Năm 1992, Viện Nghiên cứu thuốc lá Hà Nội và Viện Nghiên cứu Thuốc lá Tp. Hồ Chí Minh được hợp nhất với tên gọi: Viện Kinh tế kỹ thuật Thuốc lá; trụ sở đặt tại 235 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội. Cơ cấu gồm: 07 phòng nghiệp vụ, 01 xưởng thực nghiệm hương liệu và 4 đơn vị trực thuộc tại: Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Giang và Ba Vì - Hà Nội.

 Vào những năm 1992,  ngành Thuốc lá đã phát triển mạnh. Theo đó, Viện Thuốc lá cũng đã ngày càng trưởng thành và lớn mạnh hơn rất nhiều. Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất của Viện được Bộ Công nghiệp Nhẹ, TCT quan tâm đầu tư, qua đó đã đáp ứng được yêu cầu của công tác nghiên cứu. Cũng trong thời gian này, đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện không ngừng được bổ sung; trình độ, năng lực chuyên môn được nâng cao. Đến năm 2005, tổng số CBCNVLĐ của Viện là 235 người, trong đó có 19 cán bộ có trình độ trên đại học, 82 cán bộ trình độ đại học và nhiều nghiên cứu viên được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực thuốc lá.

Thành công được tôi luyện từ gian khó, đó mới là điều đáng quý. Và nếu nói về gian khổ, khó khăn thì điều này dường như quá quen thuộc đối với các cán bộ Viện. Bởi không chỉ nghiên cứu, Viện còn tổ chức trồng cây thuốc lá và sản xuất kinh doanh nguyên liệu thuốc lá. Vì vậy, thực địa cũng chính là môi trường làm việc và hầu hết các cán bộ, kể cả là lãnh đạo cũng phải có những thời gian bám ruộng, bám dân. Để dân tin, dân sẵn sàng tích cực hợp tác trồng cây thuốc lá là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện. Bởi vậy, từ việc hỗ trợ người dân về hạt giống, phân bón, đào tạo, chuyển giao công nghệ, hợp đồng bao tiêu… tất cả đều được Viện quan tâm chu đáo. Đã có nhiều kỷ niệm sâu sắc, không bao giờ quên đối với các cán bộ đã từng có thời gian bám ruộng, bám dân và những gian khổ đó đã góp phần tạo nên những thành công cho Viện, cho sự phát triển ngành Thuốc lá cũng như tạo nên diện mạo mới về bộ mặt kinh tế cho các địa phương trồng cây thuốc lá, góp phần xóa đói, giảm nghèo.

Trong giai đoạn này, Viện đã đạt được những thành công đáng tự hào, điển hình: Có nhiều đề tài, dự án, chuyển giao công nghệ đã được áp dụng vào thực tiễn. Riêng từ năm 1996 - 2005, đã hoàn thành tốt 03 đề tài cấp Nhà nước, 79 đề tài cấp Bộ, 165 đề tài cấp TCT; Năm 2005 được Bộ NN&PTNT công nhận 04 giống thuốc lá mới chính thức (C7.1; C9.1; A7; K149) do Viện chọn tạo để áp dụng đại trà trong các vùng trồng thuốc lá vàđây là lần đầu tiên Việt Nam đã tự lai tạo được giống thuốc lá mới, các giống này cho năng suất, chất lượng và tính chống chịu sâu bệnh và các điều kiện tự nhiên cao. Các giống này cho năng suất bình quân đạt 15-16 tạ/ha, hàng năm cung cấp trên 2.000 tấn thuốc lá nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu và xuất khẩu. Một thành công nữa của Viện là đã áp dụng lưu giữ gen thuốc lá bằng phương pháp Invitro, gồm trên 100 giống thuốc lá các loại: Vàng sấy, burley, oriental, nâu…

Nhiều nghiên cứu được áp dụng vào thực tiễn như cung cấp hàng chục tấn hương liệu có nguồn gốc thảo dược cho sản xuất thuốc lá điếu và xuất khẩu; sản xuất một số mác thuốc chất lượng cao như NC, Capital, Palace, PacPo… cho các nhà máy thuốc lá điếu góp phần cạnh tranh với thuốc lá điếu ngoại nhập lậu; sử dụng nguyên phụ liệu để tạo các mác thuốc lá có hàm lượng Tar và Nicôtin thấp, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng; hàng năm, trực tiếp sản xuất khoảng 200kg hạt giống thuốc lá các loại để cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá nguyên liệu và nông dân với chất lượng cao, giá thành chỉ bằng 1/10 so với giá nhập ngoại, tiết kiệm khoảng 200.000 USD/năm… Với việc được trang bị những trang thiết bị hiện đại như Máy hút thuốc lá, hệ thống máy sắc ký khí, hệ thống phân tích xác định đạm, máy quang kế ngọn lửa, máy quang phổ UV/VIS, máy MICRO-LAB … Viện được chỉ định là đơn vị được quyền kiểm tra chất lượng sản phẩm thuốc lá điếu cho toàn Ngành.

Giai đoạn từ năm 2006 – nay: Bước ngoặt trong cơ chế tự chủ

Năm 2006 được coi là bước ngoặt đối với Viện, đó là hoạt động theo loại hình doanh nghiệp khoa học công nghệ với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (theo QĐ số 206/2006/ QĐ-TTg ngày 5/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ). Đây là mô hình mới nhiều cơ quan khoa học chưa thực hiện. Và cũng từ đó, Viện được đổi tên thành “Công ty TNHH MTV Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá”, hoạt động theo hai lĩnh vực chính: Nghiên cứu khoa học; thực hiện SXKD các loại sản phẩm hàng hoá được hình thành từ các kết quả nghiên cứu khoa học. Cơ chế tự chủ theo năm nội dung: Nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất, kinh doanh; tổ chức; tài chính; nhân lực khoa học và công nghệ; hợp tác quốc tế.

Để đáp ứng theo cơ chế mới, trong 10 năm, Viện đã xây dựng bộ máy theo hướng gọn nhẹ, linh hoạt. Đến nay, cơ cấu của Viện gồm: Tổng số lao động thường xuyên bình quân của Viện là 113 người và khoảng 50 - 60 lao động thời vụ; Trình độ CBCNV: 03 tiến sỹ, 16 thạc sỹ, 42 đại học, 02 cao đẳng, 10 trung cấp, 26 công nhân và 14 nhân viên phục vụ và lao động khác; Viện có 07 phòng chuyên môn nghiệp vụ, và 03 Chi nhánh trực thuộc tại Ba Vì - Hà Nội, các tỉnh Bắc Giang và Cao Bằng.

Ông Nguyễn Đình Trường – Viện trưởng cho biết:

Hoạt động theo mô hình mới, đòi hỏi Viện phải chuyển đổi mạnh mẽ cả về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động. Về tổ chức bộ máy phải tinh gọn và hiệu quả trên cả hai lĩnh vực nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh, dịch vụ kỹ thuật. Đội ngũ cán bộ khoa học phải thay đổi tư duy trong theo hướng nghiên cứu bám sát yêu cầu thực tế sản xuất của ngành và nâng cao tính ứng dụng các kết quả nghiên cứu; địa chỉ ứng dụng phải được khẳng định và được xác lập ngay từ khi mới xây dựng thuyết minh đề cương. Về sản xuất kinh doanh và dịch vụ kỹ thuật phải định hướng theo yêu cầu của khách hàng đồng thời không ngừng nâng cao hàm lượng chất sám trong các sản phẩm kinh doanh chính của Viện. Hầu hết các sản phẩm kinh doanh của Viện đều hình thành từ các kết quả nghiên cứu các đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm của các nhà khoa học. Quyền lợi của các nhà khoa học được gắn liền với các kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào ngay các sản phẩm kinh doanh của Viện cũng như được chuyển giao.

Giai đoạn 2006 - 2015, Viện được giao thực hiện 214 đề tài các cấp, trong đó có 02 nhiệm vụ KHCN cấp Nhà nước, 94 nhiệm vụ KHCN cấp Bộ và 118 nhiệm vụ KHCN cấp TCT. Trong giai đoạn này, tất cả các nhiệm vụ KHCN do Viện thực hiện đều đã được nghiệm thu đạt kết quả tốt, trong đó đã có 56 nhiệm vụ KHCN đạt loại xuất sắc chiếm tỷ lệ 26%, 130 nhiệm vụ KHCN đạt loại khá chiếm tỷ lệ 61% và 28 nhiệm vụ KHCN đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 13%. Đặc biệt trong giai đoạn này, tất cả các dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước, cấp Bộ và Dự án “Đầu tư nâng cao năng lực chọn tạo và sản xuất giống thuốc lá chất lượng cao giai đoạn 2006 - 2010” đều đã được nghiệm thu đạt xuất sắc.

Trong lĩnh vực nghiên cứu sinh học: Viện đã nghiên cứu thành công 10 loại giống thuốc lá mới, được các công ty và người nông dân trồng rộng rãi ở nhiều vùng, miền trên toàn quốc như: Giống thuần C9.1, C7.1, VTL16; giống lai bất dục cho năng xuất cao, khả năng kháng bệnh, chống chọi với điều kiện tự nhiên tốt như GL1, GL2, GL6, GL7, VTL5H. Tất cả các giống thuốc lá mới này đều đã được cung cấp cho các vùng nguyên liệu thuốc lá trong cả nước.

Trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, áp dụng vào sản xuất:

Thực hiện Chương trình cải tạo lò sấy tiết kiệm nhiên liệu giảm thiểu ô nhiểm môi trường, mỗi năm, Viện tổ chức sản xuất và cung cấp được hơn 1.200 ống dẫn nhiệt bê tông cho các hộ nông dân để sửa chữa, nâng cấp và xây mới 400 lò sấy thuốc lá/năm. Lò sấy áp dụng ống nhiệt bê tông tiết kiệm chi phí nhiên liệu 0,8 kg than/kg sản phẩm thuốc lá. Như vậy, tổng số  nhiên liệu tiết kiệm nhờ việc áp dụng tiến bộ này lũy kế 5 năm là 2.800 tấn than, giá trị tiết kiệm tương đương số tiền 5,6 tỷ đồng. Nghiên cứu thành công và chuyển giao công thức phối chế 04 mác thuốc lá cho các công ty thuốc lá trong ngành Thuốc lá. Trong đó, có 02 mác thuốc lá có hàm lượng Tar và Nicotin thấp phù hợp với xu hướng quốc tế. Sản phẩm được đưa đưa ra thị trường, góp phần giảm thiểu độc hại cho người tiêu dùng đang được thị trường chấp nhận. Bên cạnh đó, Viện cũng đã nghiên cứu các loại hương liệu chất lượng cao, giúp giảm nhập hương liệu đắt tiền từ nước ngoài.

Trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng toàn ngành: Là đơn vị uy tín trong lĩnh vực kiểm định, giám định cho tất cả các đơn vị sản xuất thuốc lá điếu trên toàn quốc; hỗ trợ tích cực cho các đơn vị sản xuất thuốc lá điếu trong nước trong việc xuất khẩu thuốc lá điếu. Ngoài ra còn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các cơ quan quản lý nhà nước trong việc chống buôn lậu thuốc lá, thuốc lá giả …

Trong sản xuất kinh doanh: Các chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động khoa học công nghệ đã tăng lên đáng kể. So với những năm đầu từ khi chuyển đổi, doanh thu chỉ đạt khoảng 88 tỷ đồng/năm, đến nay đạt trên 300 tỷ đồng/năm, tăng 3,5 lần; Lợi nhuận chỉ đạt khoảng 1 tỷ đồng/ năm, đến nay tăng 3,5 lần; Nộp NSNN năm 2013 là trên 8,5 tỷ đồng/năm, đến năm 2015 nộp ngân sách đạt gần 2 tỷ đồng/năm; Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 4 lần, năm 2015 đạt gần 8,5 triệu đồng/người/tháng và mọi CB CNV đều được đảm bảo công ăn, việc làm ổn định.

Song song với những kết quả rất đáng tự hào, các công tác Đảng, Đoàn và hoạt động xã hội cũng được Viện chú trọng.

Hiện Đảng bộ Viện gồm 04 Chi bộ trực thuộc với tổng số 44 đảng viên.  Những năm qua, Đảng bộ Viện đã lãnh đạo thực hiện hoàn thành nhiệm vụ chính trị, các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm đều tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước, khẳng định vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng bộ, là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc lãnh đạo, điều hành, thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu KHCN và SXKD của Viện.

Bên cạnh đó, các phong trào thi đua và hoạt động từ thiện luôn được Ban Lãnh đạo Viện quan tâm. Các hoạt động này đã góp phần tạo nên khí thế hăng say, khuyến khích tiềm năng lao động sáng tạo trong công việc, nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh; ngoài ra còn khơi gợi mạnh mẽ tinh thần tương thân, tương ái trong mỗi CBCNVLĐ. Trong những năm qua, các phong trào thi đua điển hình như: "Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh”;  “Bám ruộng lội đồng tại các vùng trồng nguyên liệu thuốc lá”; “Thực hành tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác”; "Xanh - Sạch - Đẹp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ và cải thiệm môi trường làm việc cho người lao động”...

Hàng năm Viện đã đào tạo khoảng 300 nông dân/năm và hỗ trợ địa phương cải tạo hệ thống tưới tiêu; Đầu tư và hỗ trợ kỹ thuật liên kết đầu tư sản xuất tại tỉnh Cao Bằng trên 2.400 ha nguyên liệu thuốc lá, góp phần tạo công ăn việc làm ổn định cho khoảng 15 nghìn lao động địa phương; Tích cực tham gia các chương trình trồng rừng, hỗ trợ khuyến học, từ thiện xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới với tổng số tiền trên 23,10 tỷ đồng.

Tất cả những thành quả trên khẳng định Viện đã đi từng bước vững chắc và rất thành công với loại hình doanh nghiệp mới, qua đó mởi ra một tương lai đầy triển vọng cho doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với sản xuất kinh doanh. Với những nỗ lực đóng góp hiệu quả cho ngành Thuốc lá, Viện đã nhận được nhiều phần thưởng cao quý. Và một niềm vinh dự lớn đối với toàn CBCNVLĐ của Viện là năm 2016, Viện được nhận Chủ tịch Nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất.

Đánh giá về triển vọng của Viện trong tương lai, theo ông Nghiêm Ngọc Tuấn – Chủ tịch Viện thuốc lá: Trong giai đoạn tiếp theo, định hướng phát triển của Viện sẽ tập trung vào hai mũi nhọn là: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn cán bộ nghiên cứu đầu ngành cho từng lĩnh vực của Viện. Trong đó ưu tiên đào tạo các cán bộ có trình độ từ thạc sĩ, tiến sỹ trở lên cũng như gửi các cán bộ tào tạo ở các nước có ngành thuốc lá phát triển. Và trong việc phát triển nguồn nhân lực, sẽ tập trung đổi mới tư duy hoạt động - tư duy tạo ra giá trị trong hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể là chính các đề tại nghiên cứu phải tạo ra được giá trị mới trong dài hạn. Còn về đầu tư, sẽ đầu tư theo hướng hiện đại, trong đó tập trung đầu tư vào các phòng nghiên cứu, thí nghiệm, kiểm định và đầu tư cho hoạt động sản xuất hương liệu và nguyên liệu thuốc lá.

Với bề dày kinh nghiệm 30 năm kinh nghiệm cũng như được sự quan tâm, hỗ trợ của Bộ Công Thương, của TCT, đặc biệt là sự đoàn kết, nỗ lực của toàn thể CBCNVLĐ, Viện sẽ thành công nhiều hơn trên con đường nghiên cứu khoa học. Trong đó, phấn đấu xây dựng thành trung tâm nghiên cứu, giám định, kiểm định và phát triển của ngành Thuốc lá cũng như thực hiện chiến lược quốc gia trong việc phòng chống tác hại thuốc lá./.