Nguyên liệu thuốc lá

Phân loại thuốc lá theo đặc tính kinh tế, kỹ thuật

06/05/2019

Có nhiều cách phân loại khác nhau, trong đó cách phân loại dựa trên các đặc tính kinh tế kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất.

Điều kiện thích hợp để trồng thuốc lá Virginia là nhiệt độ 25 - 270C, độ ẩm không khí tương đối thấp (70%), đất có thành phần cơ giới nhẹ, giữ ẩm và thoát nước tốt, hàm lượng mùn trong đất thấp (1 - 1,5%).

Hoa thuốc lá vàng sấy có màu từ phớt hồng đến đỏ. Lá có hình dạng hơi dài. Cuống lá có tai và thường dính sát vào thân. Gân chính dày, thô. Các gân phụ thường nhỏ và mỏng. Lá không dày lắm nhưng có độ dầu dẻo và độ đàn hồi tốt. Thuốc lá Virginia thuộc nhóm lá lớn, độ dài lá trung châu đạt hơn 50 cm, trong những điều kiện thuận lợi, độ dài lá có thể đạt 80 - 90 cm.

Thuốc lá Virginia được sấy gián tiếp bằng hơi nóng trong lò sấy. Màu sắc của lá  thuốc sau khi sấy thường có màu vàng chanh, vàng cam, vàng sẫm.   

 Nguyên liệu thuốc lá Virginia chiếm 100% trong các mác thuốc lá điếu có gout hút kiểu Anh và là thành phần chính trong mác thuốc lá điếu có gout hỗn hợp kiểu Mỹ. Phần lá trên cùng của cây có thể sử dụng để phối chế thuốc lá hút tẩu. Độ cháy tốt, vị ngọt đặc trưng, khói có phản ứng acid, độ nặng sinh lý vừa phải, hàm lượng nicotine 1,2 - 3%, hàm lượng đường tổng số 16 - 20%. Nguyên liệu thuốc lá Virginia có chất lượng tốt, nổi tiếng được trồng ở Mỹ, Bra-xin (Brazil) và Zimbabwe.

Giống thuốc lá vàng sấy C176; K326 đang trồng phổ biến ở nước ta hiện nay, là những giống thuốc lá có nguồn gốc ở Mỹ nhập nội vào Việt Nam.

từ năm 1989 và được Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá - Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam đề nghị công nhận giống Quốc gia năm 1996. Giống thuốc lá C 7-1; C 9-1 là hai giống chọn tạo trong nước và được công nhận giống chính thức năm 2004. Giống VTL 5H là giống thuốc lá lai chọn tạo trong nước và được công nhận giống mới năm 2009. Cả 03 giống thuốc lá mới cũng đều do Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá - Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam lai tạo và chọn lọc

Thuốc lá Oriental (Phương Đông)

Đặc điểm dễ nhận thấy của dạng thuốc lá này là lá rất nhỏ so với các dạng thuốc lá khác. Lá có hình bầu dục đến hơi thon, kích thước nhỏ, mặt lá phẳng, gân lá bé. Thuốc lá Oriental được chia làm 2 nhóm là có và không có cuống lá. Theo kích thước lá, người ta phân thành 3 nhóm:

- Nhóm Basma. Lá rất nhỏ, chiều dài lá trung châu < 15 cm.

- Nhóm Basibali. Lá tương đối lớn, chiều dài lá trung châu 15 - 30 cm.

- Nhóm bán Oriental. Lá có kích thước lớn, chiều dài lá trung châu > 30 cm. 

Điều kiện thích hợp để trồng thuốc lá Oriental là nhiệt độ 18 - 25oC, độ ẩm không khí thấp (60 - 65%), đất có độ phì thấp, thành phần cơ giới nhẹ. Yêu cầu ánh sáng yếu và nhiệt độ thấp ở thời kỳ đầu sau đó tăng dần ở các giai đoạn sinh trưởng sau và có biên độ nhiệt ngày đêm lớn.

Lá thuốc Oriental sau khi được hái và phơi nắng có màu vàng chanh đến vàng cam hoặc có màu đỏ sáng đến đỏ sẫm. Lá thuốc sau sơ chế có bề mặt gồ ghề, gân nhỏ, lá mỏng nhưng độ mịn cao, có hàm lượng đường cao, hàm lượng nicotin từ 0,5 đến 2,0%. Khi hút có vị ngọt dễ chịu, không đắng, không sốc, hương thơm mạnh và rất đặc trưng, khói có phản ứng acid.

Nguyên liệu Oriental được sử dụng để sản xuất thuốc điếu gout Trung Đông, Địa Trung Hải hoặc phối chế với nguyên liệu Vàng sấy và Burley trong các mác thuốc điếu gout hỗn hợp kiểu Mỹ nhằm tăng tính êm dịu và hương thơm của sản phẩm.

Thuốc lá Burley

Thuốc lá Burley thuộc nhóm lá lớn trung bình (chiều dài 40 - 60 cm). Thân cây và gân lá có màu trắng sữa, lá xanh nhạt. Điều kiện thích hợp để trồng thuốc lá Burley là nhiệt độ 25 - 27oC, độ ẩm không khí cao, đất tốt, thành phần cơ giới nhẹ, có hàm lượng mùn cao (> 2,5%) và cung cấp nước tốt. Lá Burley được sấy theo kiểu hong gió trong bóng mát. Có thể thu hoạch và hong phơi từng lá hoặc sau khi thu một số lá ở tầng dưới có thể chặt cả cây hong phơi.

Lá thuốc Burley sau sơ chế thường có mầu nâu sô-cô-la (chocolate), nâu sẫm. Do tỷ lệ đường/nicotine thấp (lá có hàm lượng đường thấp, hàm lượng nicotine cao) dẫn đến khói thuốc có tính kiềm. Đặc điểm nổi bật của thuốc lá Burley là có độ xốp cao, có khả năng hấp phụ hương liệu tốt. Vì thế, dạng thuốc lá này đang được sử dụng nhiều để sản xuất các mác thuốc điếu khẩu vị hỗn hợp gout Mỹ với tỷ lệ chiếm 25 - 35 %. Ngoài ra, chúng còn tham gia vào thành phần ruột thuốc Xì-gà (cigar), phần lá trên cùng của cây dùng để phối chế thuốc hút tẩu và thuốc lá nhai.

Ở nước ta hiện nay đang trồng phổ biến giống KY 14 và TN 90 là giống thuốc lá của Mỹ, nhập nội vào Việt Nam từ năm 1993.

Thuốc lá Nâu

Thuốc lá Nâu có rất nhiều giống, thích hợp với đất có độ phì cao, độ ẩm đất và không khí cao, được trồng nhiều ở Trung và Nam Mỹ, Ấn độ, Pakistan, Nhật, châu Phi. Ở nước ta, thuốc lá Nâu được trồng ở các tỉnh miền Trung và Đông Nam Bộ.

Thuốc lá Nâu thuộc nhóm lá lớn trung bình, được sấy khô bằng cách phơi nắng hoặc hong trong bóng mát. Lá thuốc sau khi phơi có mầu nâu sáng (nếu phơi nắng) hoặc mầu nâu tối (nếu phơi trong bóng mát). Thuốc lá Nâu có hàm lượng nicotin cao, hàm lượng đường hòa tan rất thấp và độ nặng sinh lý cao, được dùng để sản xuất một số loại thuốc  điếu cấp trung và cấp thấp hoặc tham gia vào một số mác thuốc hỗn hợp hoặc để hút tẩu.

Ở nước ta hiện nay đang trồng phổ biến giống RMB 35 được chọn lọc từ giống Nâu phơi tên Rio Grande (Braxin) được nhập  nội trước năm 1960.

Ngoài ra còn một số dạng thuốc lá khác như Maryland, thuốc lá nhai, xì-gà,...