Ở miền Nam, 2 nhà máy thuốc lá MIC và J.Bastos được
quốc hữu hóa và đổi tên thành Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn và Nhà máy Thuốc
lá Vĩnh Hội thuộc Xí nghiệp Liên hiệp Thuốc lá miền Nam, sản xuất theo
kế hoạch nhà nước. Hai Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn và Vĩnh Hội, đã tận
dụng nguyên phụ liệu còn tồn kho để tiếp tục sản xuất, sau đó cũng rơi
vào tình trạng thiếu nguyên liệu, phụ liệu, phụ tùng thay thế, thiếu
điện, thiếu dầu...
Tình hình trên không chỉ xảy ra ở ngành thuốc lá,
mà còn là tình trạng chung của toàn bộ nền kinh tế đất nước. Vào cuối
những năm 70, nền kinh tế Việt Nam xuất hiện “khủng hoảng
thiếu“ toàn diện. Nguyên nhân khách quan là do
hậu quả của chiến tranh, của lũ lụt, hạn hán. Nhưng nguyên nhân chủ
quan là việc duy trì mô hình kế hoạch hóa, tập trung bao cấp quá lâu,
hạn chế đến sự phát triển tự nhiên của kinh tế-xã hội.
Trước thực tiễn đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần 6
(Khóa IV) tháng 8/1979 có bước đột phá đầu tiên của công cuộc đổi mới,
ra Nghị quyết đảm bảo quyền tự chủ cho các xí nghiệp, kết hợp 3 lợi ích
của nhà nước, tập thể và người lao động, khuyến khích nông dân sản xuất
nông nghiệp bằng cách khoán sản phẩm, cho lưu thông tự do.
Các nhà máy thuốc lá đã đi đầu trong việc thực hiện
Nghị quyết Trung ương 6: ở miền Bắc, hai Nhà máy Thuốc lá Thăng Long và
Bắc Sơn đều vượt chỉ tiêu Nhà nước giao, Xí nghiệp Liên hiệp Thuốc lá
miền Nam đạt 40% chỉ tiêu của cả năm 1980 trong vòng một tháng.
Để thực hiện các Nghị quyết của Trung ương Đảng về
đẩy mạnh sản xuất, ngày 18/6/1981 Bộ Công nghiệp Thực phẩm ra quyết
định số 623/CNTP/TCQL thành lập Xí nghiệp Liên hợp thuốc lá I bao gồm
Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, Nhà máy Thuốc lá Bắc Sơn và một số trạm
nguyên liệu ở các tỉnh phía Bắc, thành lập Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá
II bao gồm Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn, Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội, 3 Xí
nghiệp Nguyên liệu, 1 Xí nghiệp Lên men Thuốc lá và 1 Trung tâm Nghiên
cứu Thuốc lá ở miền Nam.
Từ 1981 đến 1985, dưới sự lãnh đạo của Xí nghiệp
Liên hợp Thuốc lá I và II, các nhà máy thuốc lá Thăng Long, Bắc Sơn,
Sài Gòn, Vĩnh Hội đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao, hoàn
thành việc khôi phục sản xuất, đạt sản lượng cao hơn trước năm 1975.
Giai đoạn 1985-1995
Ngày 05/4/1985 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị
định số 108/HĐBT về việc thành lập Liên hiệp các Xí nghiệp Thuốc lá
Việt Nam, gọi tắt là Liên hiệp Thuốc lá Việt Nam (tiền thân của Tổng
Công ty Thuốc lá Việt Nam), trên cơ sở hợp nhất Xí nghiệp Liên hợp
Thuốc lá I và Xí nghiệp Liên hợp Thuốc lá II, nhằm thực hiện thống nhất
tổ chức ngành thuốc lá Việt Nam, tập trung đầu mối quản lý để thực hiện
chương trình mục tiêu phát triển sản xuất thuốc lá của Nhà nước.
Sự ra đời của Liên hiệp Thuốc lá Việt Nam đánh dấu một bước chuyển biến mới về
phương thức quản lý và trở thành một mô hình đầu tiên về quản lý ngành
đối với toàn ngành thuốc lá Việt Nam.
Tháng 12/1986, Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra một
trang sử mới trong lịch sử của Đảng và dân tộc, Đại hội khẳng định:
“Đảng phải tự đổi mới - đổi mới tư duy, đổi mới tác phong lãnh đạo, đổi
mới tầm nhìn. Không còn cách nào khác, tư tương “lấy dân làm gốc”
chuyển nền kinh tế theo cơ cấu cũ sang kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước là sự lựa chọn có tính tất yếu”.
Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng đã tạo ra sự
biến đổi sâu sắc nền kinh tế của nước ta. Giai đoạn 1985-1992, ngành
công nghiệp thuốc lá quốc doanh do Liên hiệp Thuốc lá Việt Nam
quản lý có điều kiện và cơ hội mới để phát triển nhưng cũng phải đối
mặt với những thách thức to lớn của cơ chế thị trường.
Đặc điểm nổi bật của tình hình sản xuất thuốc lá từ
1985 đến đầu những năm 90 là sự ra đời của các xí nghiệp thuốc lá tại
các tỉnh, thành phố, các quận, huyện và các ban ngành. Bên cạnh đó là
thuốc lá nhập lậu ngày càng nhiều, đến năm 1989, 1990 thuốc lá nhập lậu
ước tính 150-200 triệu bao/năm. Hậu quả của tình hình trên đã gây khó
khăn cho việc quản lý sản xuất và lưu thông thuốc lá, làm thất thu ngân
sách Nhà nước.
Để chấm dứt tình trạng kể trên, Chính phủ đã ban
hành Chỉ thị số 278-CT ngày 3/8/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về
việc cấm nhập khẩu và lưu thông thuốc lá điếu của nước ngoài trên thị
trường nước ta và Quyết định số 392-CT ngày 12/11/1990 của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng về việc chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất và lưu thông
thuốc lá điếu. Đồng thời, Liên hiệp Thuốc lá Việt Nam đã chỉ đạo các
nhà máy thuốc lá quốc doanh đẩy mạnh đầu tư chiều sâu, thay đổi cơ cấu
sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì, mở rộng thị trường để đưa sản phẩm đến
tận tay người tiêu dùng, sản xuất nhiều mác thuốc mới có khả năng cạnh
tranh với thuốc lá ngoại nhập, trong đó sản phẩm Vinataba được đánh giá
là sản phẩm thành công thay thế thuốc lá ngoại và giành được thị phần
ngày càng lớn trên thị trường.
Liên hiệp Thuốc lá Việt Nam còn chú trọng tìm đối
tác đầu tư toàn diện từ khâu trồng, chế biến, xuất khẩu nguyên liệu đến
khâu sản xuất thuốc điếu, đã bước đầu đàm phán với các tập đoàn thuốc
lá lớn trên thế giới như B.A.T, Philip Morris, Rothman, Intabex... và
đàm phán với New Toyo, Leigh Mardon về sản xuất và in bao bì thuốc lá
điếu, giấy sáp vàng...
Ngoài ra, vào những năm 1986-1990, hàng năm Liên
hiệp Thuốc lá Việt Nam xuất khẩu 300-400 triệu bao thuốc sang Đông Âu
và Liên Xô (cũ).
Qua 8 năm hoạt động (1985-1992), Liên hiệp đã khẳng
định được vai trò nòng cốt đối với toàn ngành thuốc lá Việt Nam,
đáp ứng được nhu cầu của xã hội, tích lũy ngày càng tăng cho Nhà nước.
Để tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được,
Bộ Công nghiệp nhẹ ra quyết định số 1007/CNn-TCLĐ ngày 31/10/1992 về
việc chuyển đổi tổ chức và hoạt động của Liên hiệp thuốc lá Việt Nam
thành Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ
Giai đoạn 1996-đến nay:
Ngày
29/4/1995, Chính phủ ra Quyết định số 254/TTg về việc thành lập Tổng Công
ty Thuốc lá Việt Nam (VINATABA), một trong 17 Tổng Công ty 91 của Nhà
nước, trực thuộc Chính phủ. Đây là mô hình của một tập đoàn kinh tế
lớn, đa ngành, trong kinh tế quốc doanh.
Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước
ra đời là một bước tiến mới trong lịch sử phát triển của ngành thuốc lá
Việt Nam.
Sau 10 năm đổi mới thắng lợi, đến năm 1995, nước ta
đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Tháng 6/1996 Đại hội Đảng lần
VIII quyết định chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Đối với ngành thuốc lá, ngày 12/5/1999, Chính phủ
ban hành Chỉ thị số 13/1999/CT-TTg về
việc chấn chỉnh sắp xếp sản xuất kinh doanh ngành thuốc lá và Quyết
định số 175/1999/QĐ-TTg ngày 25/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc
dán tem thuốc lá sản xuất trong nước có tác dụng hạn chế việc sản xuất
thuốc lá lậu, thuốc lá giả, tăng thu ngân sách cho nhà nước. Ngày
22/10/2001, Chính phủ ra Nghị định số 76/2001/NĐ-CP về hoạt động sản
xuất và kinh doanh thuốc lá khẳng định Nhà nước độc quyền thuốc lá,
chấm dứt tình trạng sản xuất thuốc lá tràn lan. Một số doanh nghiệp
không đủ tiêu chí hoạt động trong ngành thuốc lá đã bị giải thể, sáp
nhập.
Tất cả quyết định trên của Chính phủ đã chấn chỉnh
lại toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc lá, tạo môi trường
thuận lợi cho cạnh tranh lành mạnh giữa các xí nghiệp thuốc lá.
Sau 10 năm hoạt động theo mô hình mới (1996-2005),
Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam đang hướng tới xây dựng thành một tập
đoàn kinh tế mạnh, tiếp nhận thêm các Nhà máy thuốc lá địa phương trong
cả nước, tiến hành kinh doanh đa ngành: kinh doanh trong ngành công
nghiệp thực phẩm, ngân hàng, sản xuất nước tinh khiết, sản xuất rượu,
sản xuất trà giải độc, đầu tư vào ngành bảo hiểm...
Kể từ ngày 01/01/2006, theo Quyết định số
327/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty chính thức hoạt
động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Công ty mẹ được thành lập trên
cơ sở tổ chức lại Văn phòng Tổng Công ty Thuốc lá Việt nam, Công ty
Thương mại Thuốc lá và Công ty Xuất nhập khẩu thuốc lá.
Hiện nay, với 18 công ty thành viên và một số
công ty liên kết góp vốn, Tổng công ty là đối tác chính trong việc hợp
tác sản xuất và chế biến thuốc lá tại Việt Nam với các tập đoàn thuốc
lá hàng đầu thế giới.